Welcome to BLOG

Phần mềm bản quyền miễn phí hàng ngày

Giveaway of the Day

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    LIÊN KẾT BÁO

    LIÊN KẾT THÀNH VIÊN ViOLET

    Chức năng chính 1

    Chào mừng đến với BLOG TRUYỆN

    Blog Truyện là website chia sẻ tài liệu nên xin được bỏ qua vấn đề về bản quyền tác giả. Nếu có yêu cầu gì xin được liên hệ qua dienbd79@gmail.com
    Gốc > TRUYỆN HIỆN ĐẠI > ANH ĐỨC > Hòn Đất >

    Hòn Đất (Anh Đức) - Chương 5 (b)

    3.
    Nhà vợ chồng Hai Thép có một cái hầm bí mật. Hầm này nguyên đã sẵn có hồi mấy năm đen tối. Sau khi đồng khởi lên rồi, anh Hai Thép chẳng những không lấp mà còn ra sức củng cố. Hầm trổ miệng ngay giữa nhà, nhưng có còn có tới ba bốn nhánh ăn thông ra ruộng. Nếu địch có khui miệng, cũng không dễ gì phăng ra được. Mấy hôm nay anh Tám Chấn ở dưới hầm, đêm đêm anh mới lên thở hít không khí cho khỏe rồi cũng trở xuống đốt nến làm việc. Chiều hôm ấy, vừa lúc trời vừa tắt nắng, chị Hai Thép từ ngoài xóm về giậm khẽ mấy gót chân xuống miệng hầm, và dở hầm. Anh Tám Chấn mới trồi lên, chị nghẹn ngào nói:
    - Cô Ba Sứ chết rồi!
    Anh Tám đau đớn lặng đi giây lát. Lát sau, anh mới khẻ hỏi:
    - Chết hồi giấc nào?
    - Mới chết hồi nãy, cách đây gần non một tiếng Thằng Xăm chém cô ấy. Tụi tôi đã cùng bà con giành được xác cô. Cô Sứ chết làm cả xóm đều khóc, bà con kéo ra đường ùn ùn. Lúc giành giật xác cô Sứ, đã xảy ra một cuộc ẩu đã giữa tụi tôi và lính.
    - Hiện thi thể của Sứ để ở đâu?
    - ở nhà má Sáu. Bà con bây giờ đã kéo tới đó đông lắm! Anh Tám Chấm đứng thẳng lên, hai tay choàng qua hai mé miệng hầm, ngó đăm đăm vào khoảng không trước mặt. Chốc sau, anh nói:
    - Bây giờ thím phải ra đó ngay. Tổ chức hàng ngũ bà con lại cho chặt chẽ để đưa đám Sứ. Cần phải biến đám tang thành một cuộc biểu tình, đi khắp xóm, nhơn đó mà làm cho bà con căm thù thêm.
    chị Hai Thép đáp:
    - Tụi tôi cũng tính vậy. Để tôi trở ra ngoài liền...
    Nói rồi, chí đứng nhổm lên định sửa soạn đậy nắm hầm. Chợt nghe anh Tám chấn lại bảo:
    - Khoan đã!... Thím Hai, theo tính, liệu có thể nào điều động đám tang cô Sứ đi qua cận cửa hang Hòn được không?
    Chị Hai Thép tỏ vẻ ngạc nhiên?
    - Chi vậy anh?
    Anh Tám Chấn không đáp, kéo áo chị ngồi xuống. Và anh dặn điều gì rất khẽ, rồi hỏi:
    - Sao, thím nhắm liệu bề có được không, nếu được thì rất tốt!
    Chị Hai Thép im đi một lát mới nói:
    - Để tôi bàn với chị em coi, hễ có cơ hội thì kết hợp làm luôn. Thôi, tôi đi nghen anh?
    - Thím Hai, thím phải cân nhắc cho kỹ, không nhường bước và cũng không để căng quá, đừng để xảy ra tình trạng ẩu đã với binh sĩ nữa... Phải tranh thủ lôi kéo họ là chánh... Mà thím nè, mấy đứa nhỏ đi đâu mất hết rồi.
    - Tôi gửi tụi nó ở nhà bên rồi.
    Chị Hai Thép đáp, và khi anh Tám tụt xuống, chị lẹ làng đậy nắp hầm lại, rồi lấy chổi quét qua mấy nhát. Chị Hai Thép ngắm nghía coi lại nắp hầm lượt nữa rồi dựng chổi, bươn bả đi tới nhà mẹ Sáu.
    Bây giờ trời đã chập choạng. Trước sân và quanh nhà mẹ Sáu, bà con lối xóm đến đông nghịt.
    Chị Hai Thép đến một lúc thì cuộc tẩm liệm bắt đầu. Khi chị và chị Ba Rèn sắo sửa đặt Sứ vào hòm, mẹ Sáu gác nhẹ đầu Sứ trên đùi, rồi cầm cái lược chải tóc cho con. Mẹ chải kỹ lưỡng, như mọi bữa mẹ vẫn chải cho Sứ. Cũng với chiệc lược thưa bằng sừng trâu đen huyền ấy! Nhưng lần này, mẹ chải rất lâu, chải mãi. Vừa chảy mẹ vừa lần gỡ hết các món tóc rối. Chải xong, mẹ bảo chị Hai Thép với giọng tỉnh hắn:
    - Vợ Hai Thép coi phía sau tủ thờ có chai dầu bông bưởi, lấy dùm tao! Con Sứ nó ưa xức thứ dầu đó lắm. Hôm rồi nó kiếm ở đâu đem về để đó, chắc tính xức mà chưa kịp xức...
    Chị Hai Thép mò tìm được chai dầu, mở nút, đem lại đưa cho mẹ Sáu. Mẹ Sáu cầm chai dầu, nhểu mấy giọt vào giữa lòng bàn tay, xức lên tóc con gái. Dỗu bông bưởng thoảng khắp nhà mùi hương thơm dìu dịu, trinh bạch. Mẹ sáu xức cạn chai dầu, rồi cầm lược chải lại tóc con một lần nữa. Chừng đó mẹ mớt bắt đầu bới tóc cho con, nhẹ nhàng và khéo léo. Biết bao lần mẹ đã bới mái tóc ấy, nên mẹ quen lắm. Chiều bài và tính nết của làn tóc ấy ra sao mẹ thuộc lắm.
    Mẹ Sáu bới cho đứa con mình một đầu tóc thực là khéo. Đầu tóc đó trò trịa, đầy đặn hơn cả khi Sứ còn sống. Có lẽ đây là cái đầu tóc khéo nhất của Sứ, kể từ thời tóc kẹp đuôi gà của Sứ qua đi, kể từ lúc Sứ biết ham bới tóc và có đủ tóc để bới. Đầu tóc đó được bới khéo như vậy tưởng cũng không lạ. Vì đây là lần cuối cùng mà một người mẹ bới cho con, với đôi bàn tay trút hết tình âu yếm.
    Bới xong, mẹ Sáu cũng chưa yên tâm rời con ra được. Mẹ với tay ra sau đầu tóc mình, rút chiếc lông nhím đồng, ghim vào đầu tóc con. Còn mớ tóc của Sứ bị thằng Xăm chém đứt hồi trưa, bà con đem về, mẹ nâng đặt lên mặt bàn thờ.
    Bây giờ, mẹ mới bắt đầu khóc lặng.
    Bà con nới nhẹ tay mẹ Sáu ra, dìu mẹ đến bên giường. Chị Hai Thép và chị Ba Rèn đỡ lấy Sứ, đặt Sứ vô chiếc hòm sơn màu chu. Bà con chuyền tay nhau những súc vải mùng trắng tinh đắp liệm lên mình Sứ.
    Khi nắp hòm sắp sửa đậy lại, mẹ Sáu giằng mọi người ra, chạy đến. Nhưng mẹ khưng còn thấy gì nữa. Trong tiếng khóc nấc của mẹ, nắp hòm đậy xuống, liền mí, và cái hòm bấy giờ hoàn toàn đỏ, đỏ thẫm. Cái hòm trong đó có Sứ đặt giữa san nhà gỗ, nơi chị sinh ra và lớn lên, nơi chị đùa giỡn thuở còn tấm bé. Tại đây chị đã khóc, đã cười, đã chơi đánh búng và chuyền đũa. Bây giờ, tại đây chị ngủ rồi, chị ngủ mãi mãi. Nhưng cả cuộc đời hai mươi bảy năm thì chị vẫn để lại, nhất là những giờ phút chót của cuộc đời ấy.
    Người ta nghe tiếng chị Hai Thép dõng dạc ra lệnh cho những bà con ở trong nhà và đứng dài từ bậc thang đổ xuống sân:
    - Đốt đuốc lên!
    Các bà các chị bắt đầu đốt đuốc lá dừa và đuốc rơm đánh vội. Nhiều người, trong đó cá cả Cà My, đang bó túm những vật gì vào vạt áo. Lát sau, ánh đuốc cháy sáng sân nhà.
    Mẹ Sáu xin cho chôn Sứ bên mộ cha chị. Đáng lẽ bà con đưa Sứ đến thẳng chỗ mộ cha chị dưới chân Hòn thì gần hơn. Nhưng bà con không đi cái lối gần đó. Bà con đưa Sứ qua các vườn, đi qua xóm. Đám đưa tang biến thành một cuộc diễu hành đi ngang các nhà, đi ngang vườn cây, quê hương yêu dấu của người con gái đã chết. Toán lính tuần đêm đầu tiên bắt gặp đám người đó giữa một khu vườn vú sữa. Chúng thét:
    - Giờ thiết quân luật mà mấy người kéo đi đâu rần rần vậy?
    Thím Ba ú bước sấn lên:
    - Mấy người giết con cháu chúng tôi, thì chúng tôi phải đi chôn chớ đi đâu!
    Tên cầm đầu tpán đi tuần nghe nói, đưa hai tay về phía trước:
    - Được, cứ đi đi!... Mấy người biểu tình luôn cũng được nữa.
    Tên này nói xong, quay lưng thoát tay ra hiệu toán lính gạt ra hai bên. Đoàn người dẫn đầu là chị Hai Thép và thím Ba ú, lại tràn tới. Đuốc lá dừa trên tay họ cháy kêu lép bép. Đuốc rơm cháy dáng trên tay, họ còn cầm theo một bó đuốc dự trữ, chưa đốt. Đoàn người và lửa đuốc, cứ ồ ồ, phừng phừng, lũ lượt tốp trước tốp sau nối đuôi cái hòm ghè đầy những vai phụ nữ. Lửa đuốc chiếu cái hòm đỏ chói giữa đường đêm lòa sáng. Lửa đuốc còn rọi óng ánh những mái tóc bạc phơ của các mẹ, rọi bóng nhãy vòm lá trên đó từng chùm vú sữa tím căng da bóng lưỡng.
    Mẹ Sáu đi ngay sau cái hòm, bên chị Ba Rèn và các mẹ Hòn Đất. Hai chị dìu mẹ. Nhưng mấy lần mẹ gạt tay hai chị ra, bươn tới. Giờ mẹ không khóc. Cuốn theo dòng người ồ ạt, mẹ không còn muốn khóc nữa. Có cái gì đó cứ nóng sôi trào lên trong bộ ngực già nua lép kẹp của mẹ. Ban nãy, mẹ đau đớn chia lìa con gái. Giờ đây, đi giữa đoàn người, mẹ thấy hình như không phải chỉ có mỗi con của mẹ hy sinh. Biết bao người cùng đi với mẹ đây có chồng con, anh em đã chết hoặc bị đánh dập phổi, dập gan, kẻ không còn chân, người không còn tay! Có biết bao thân nhân ruột thịt với họ giờ còn trong lao tù hoặc bị đọa đáy ngoài hải đảo! Bảy năm nay cả Hòn Đất không có mấy gia đình thoát khỏi cảnh tang tóc, khảo tra, bức hiếp. Xương người còn đó, máu người còn đây.
    ... Không, không phải chỉ có mỗi mình mẹ riêng chịu cảnh ấy, mà là tất cả xóm giềng. Không phải chỉ có mỗi mình mẹ tranh đấu, mà còn có trăm, ngàn người ở Hòn Đất, triệu người ở miền Nam đi tranh đấu. Sóng biển đánh ầm ầm sau lưng mẹ như bảo mẹ hãy dấn lên đau khổ mà đi. Vườn lá rào rào nỗi gió như giục giã mẹ thù kia phải trả. Xương đòi xương, máu đòi máu. Không phải chỉ có mẹ và bà con đang đi đây, còn đám con đám cháu của mẹ đang bị vây trong hang kia nữa! Năm ngày đêm ròng rã, đám con cháu đó nhịn đói nhịn khát chống trả quyết liệt. Chỉ có một người bị sa vào tay giặc, nhưng người đó không đầu hàng, người đó là con gái ruột củamẹ. Còn đứa cháy mới mồ côi, còn con rể, còn chồng hai người đàn bà đang đi bên mẹ đây - chị Hai Théo và chị Ba Rèn - còn thằng Bé con chú Tư Râu, còn bao nhiêu người mà mỗi lần nghĩ tới, thì mẹ thấy yên yên trong dạ.
    Đoàn người đã kéo đến bên bờ con suối Lươn. Quân giặc đóng trên bờ suối khi nhìn thấy ánh đuốc như một đám cháy lớn trườn về phía chúng, chúng liền la lên và chạy xổ ra. Tên đại úy Cao, chỉ huy tiểu đoàn lính chủ lực vừa ở trong lều chui ra, nhác trông thấy đám người khiêng cái hòm đỏ chói thì gã hiểu ngay. Gã lập tức ra lệnh cho bọn lính cầm súng dàn hàng ngang, chắn lấy một quãng suối. Rồi gã chạy xồng xộc tới trước đoàn người, khoát mạnh tay:
    - Không được đi tới!
    Thím Ba ú vẫn nhẹ nhàng:
    - Ông à, cháu chúng tôi bị mấy ông giết, phải để chúng tôi đem chôn chớ!
    - Thiếu tá cấm chôn ba đêm.
    Giọng thím ú vẫn nhẹ nhàng:
    - Ông à, cháu tôi bị mấy ông giết thế đó, để lâu đâu có tiện!
    - Không tiện thì mặc kẹ. Việt cộng mà cho chôn là quý rồi!
    - Thưa ông, cháu tôi có theo Việt cộng đi nữa thì nó cũng là cháu tôi. Chúng tôi đem chôn nó ở chân Hòn thì có mất mát gì mấy ông đâu? Tội nghiệp, nó bị mấy ông giết cách thảm thiết quá mà!
    - Con mẹ mập này ăn nói cà xốc dữ hôn? Đã nói là ban đêm ban hôm, thiếu tá không cho ai léo lánh đi đâu hết, nghe chưa?
    Thím Ba ú buông tay xuội lơ, vẻ thất vọng:
    - Vậy mà tôi tưởng ông có quyền ở đây, té ra ăn thua ở ông thiếu tá! Thôi đươc, vậy ông cho tôi gặp thiếu tá đổ tôi xin ổng!
    Gã đại úy Cao niễng đầu qua, niễng đầu lại như để nhận dạng thím Ba ú, đoạn gã gằn giọng:
    - Đòi gặp thiếu tá đặng đấu tranh hả! Coi bản mặt chị, tôi biết là dân cầm đầu đấu tranh liền mà!
    Một tên lính nói chen vào:
    - ối, cái chị này tôi gặp chị đi biểu tình ở Rạch Giá hoài đây!
    - Ê, đừng nói bậy nghe! Tôi đang nói chuyện với ông đại uý, mấc mờ gì anh mà anh xía vô?
    Thím Ba mắng tên lính xong, lại bóp bóp hai bàn tay nói với tên đại uý, vẫn với giọng nhẹ nhàng như trước:
    - Ông làm ơn để chúng tôi gặp ông thiếu tá đi, thế nào ổng cũng cho. Mấy ông đánh nhau với Việt công trong hang, mấy ông bắt được họ đem giết là đủ rồi, lẽ nào lại không cho chôn?
    - Không cho, gã nạt - cứ nói dai nhách!
    Không nhịn được nữa, thím ba ú thét:
    - Chẳng cho chúng tôi cũng đi!
    Rồi bước thoắt qua mặt tên đại uý, thím khoát tay kêu mọi người tiến lên. Đoàn người ồ theo, xô rẹt những tên lính, tràn xuống suối. Gã đại uý gào lên:
    - Đứng lại không tôi bắn!
    Đoàn người vẫn không dừng lại. Ho giơ cao đuốc. Lội sồn sộn qua suối. Lòng suối phút chống sáng rực ánh đuốc. Tên đại uý chạy lại bảo khẽ mấy tên lính:
    - " Bắn bổng đi!" Bọn lính tuân lệnh cất cao họng súng bắn "đoành đoành". Dòng người đuốc vẫn lội qua suối, tràn tới bờ bên kia. Chiếc hòm đỏ đã được đưa lên bờ. Chị Hai Thép nới chuyền ra sau:
    - Nó bắn bổng, đừng sợ, đi đi!
    Kinh nghiệm các cuộc đấu tranh đã từng dạy cho mọi người rằng giữa giờ phút này chỉ có tiến chớ không được lùi. Mà họ cũng nghe những phát súng bắn bổng kiểu đó nhiều lần rồi, nên họ vẫn bình tĩnh. Vả lại, mỗi người đi đây đều biết rõ ngoài việc đưa Sứ, họn cò có mục đích khác hết sức quan trọng là nhân lúc kéo tới chân Hòn, một số chị em sẽ chạy đến miệng hang liệng vào đấy những gói cơm, thức ăn và những chai nước mà họ đã chuẩn bị, đã bó chặt và giấu kín trong người từ lúc chạng vạng.
    Gã đại úy Cao là một tên đã từng có kinh nghiệm đàn áp các cuộc đấu tranh nên việc hạ lệng bắn thẳng vào đoàn người gồm cả ngàn phụ nữ này là việc gã rất thận trọng. Đã đôi lần, chính gã suýt chết vì những quả đấm, những gậy gộc hoặc đá cục liệng vào ngườo khi gã cho nổ súng giết chết mấy người trong đoàn biểu tình nị. Ban đầu, gã cứ ngỡ là nếu bắn một người chết, ngàn người phải chùn lại. Lạ thay, lần nào hễ có một người chết, ngàn người đều tràn tới, đấm đạp, cấu xé vào gã và đồng bọn một cáh dữ dội. Nên bây giờ sau sáu phát súng bắn bổng, gã vẩn chưa dám hạ lệnh bắn thật. Hơn nữa, ngay từ hôm tới đây, tên thiếu tá đã căn dặn bọn gã: "Muốn tiêu diệt được tụi Việt Cộng trong hang, cần nhứt là không nên để nổ ra một cuộc đấu tranh chánh trị nào tại đây. Chọc ổ tụi đàn bà thì bô bối lắm!... Có gì mấy anh cũng phải đợi lệnh của tôi!"
    Hôm đó, gã thầm phục thiếu tá là người sân sắc, thấy đơợc sự lợi hại. Bây giờ thì ổ đã động, đám đờn bà lội qua suối ùn ùn không chờ lệnh gì cả, gã biết làm sao được. Chỉ còn cách là gọi điện thoại cho thiếu tá.
    Nghĩ thế, gã liền chạy tới lều truyền tin, chui vào vơ lấy ống điện thoại quay liên hồi. Bên kia đầu dây vọng lại tiếng ồ ồ ngái ngủ của tên lính trực máy:
    - Ai kêu?
    - Tôi đây, đại uý Cao ở tiểu đoàn ba đây. Cho tôi nói chuyện gấp với thiếu tá:
    - Thiếu tá à, ổng ngủ rồi!
    - Kêu dậy, kêu ổng dậy!.. Dân chúng họ biểu tình tràn qua suối rồi, mau đi!
    Gã để ống nói nơi tai chờ. Tới năm phút sau, tờ bên kia mới có tiếng tên thiếu tá hỏi:
    - Sao, dân chúng biểu tình hả?
    - Dạ, phải. Họ đòi đem con nhỏ bị chém đi vô chân Hòn chôn, tôi không cho, họ kéo lại qua suối.
    - Bắn dọa cho họ lui lại. Bắn đi!
    - Thưa, bắn rồi mà họ vẫn không lui. Thưa, cho phép tôi bắn thật may ra...
    - Bắn thiệt à... không, không, rắn rối lắm! Họ đã qua suối rồi hả, rượt theo, rượt theo ngăn cắt họ lại!
    - Dạ dạ...
    Gã đại uý bỏ ống nói ra, chạy ra ngoài, nhưng đã muộn rồi... Đứng trên bờ suối, gã chẳng còn thấy bóng một người bào nữa. Ngọn đuốc cuối cùng đã khuất vào vườn dừa. Chỉ còn thấy ánh đuốc hắt lên lá dừa chập chờn, loang loáng.
    Khi gã đại úy dẫn một trung đội vượt suối rượt kịp khúc đuôi đoàn người thì cũng đúng lúc từ trong đoàn người vụt tách ra nhiều cái bóng đen, chạy riết về phía hang Hòn. Đó chính là những chị em đã được chị Hai Thép giao cho nhiệm vụ đem cơm nước vô miệng hang.
    Cái bóng vụt lên trước tiên là Cà Mỵ. Một tay cô xách chai nước đã được bó lại bằng rơm, còn tay kia cô xách một gói cơm nếp nén chặt. Cà Mỵ chạy nhào tới, tất cả theo sau cô là những cô, những chị khác cũng xách nước xách cơm như cô.
    Lúc Cà Mỵ chạy gần tới miệng hang, thình lình một phát súng từ trong bắn ra, nổ vang. May cho cô, viên đạn chỉ bay sướt qua tóc. Cô hoảng quá, đứng khựng lại, la ré lên, giọng lơ lớ:
    - Tui đây, tui là Cà Mỵ đây, mấy anh ơi!... Tui tui đem cơm cho mấy anh mà!
    Trong hang, người vừa bắn phát súng là một du kích. Anh rụng rời chúi mũi súng xuống:
    - Trời ơi, Cà Mỵ đó hả? Có sao không?
    - Không sao, không sao...
    Cà Mỵ lắp bắp. Bóng cô lao tới miệng hang. Và cô chuồi nhẹ chai nước, gói cơm vào hang
    - Mấy anh còn đủ không?
    - Còn.
    - Chị Sứ chết rồi, tụi tui đi đưa chị Sứ đây!
    Cà Mỵ chỉ kịp hỏi và nói thế rồi chạy ngược trở ra. Người sau lại tới. Cứ thế mà liệng cơm, liệng chai nước vào. Mỗi một bóng người đều xưng tên, hỏi thăm trong hang ai còn ai mất, rồi chạy đi. Thoáng thấy bóng đen nào, từ trong cũng vẳng ra tiếng nhắn nhủ.
    - Nói bà con yên tâm, tụi tôi chỉ bị thương có hai, tụi còn chiến đấu như thường!
    - Bà con ngoài đó ráng đấu tranh với tụi nó. Phải đòi bồi thường tài sản bị phá. Phải làm rã ngũ tụi lính. Nhớ nghe, nhớ đấu tranh gắt lên, nghe!
    - ờ, nhớ rồi, nhớ rồi!
    Chợt có tiếng chú Tư Nghiệp thốt lên:
    - Trời ơi, ai phải má con Lụa không?
    - Phải... Phải, tía nó đó hả?... Tôi đây nè, tía nó ơi!.... Thôi tôi đi!...
    Những câu hỏi hấp tấp và những câu trả lời vội vã. Người bên ngoài hỏi dồn người trong hang. Người trong hang nhắn gởi người ở ngoài. Tiếng những chai nước, gói cơm rơi lịch bịch xuống ngõ hang. Rồi tiếng thở hổn hển, tiếng chân phụ nữ lụi dụi chạy tới. Cái miệng hang sáng ánh trăng trong phút chốc đổ dồn hết bóng người này tới bóng người khác, mà bóng người nào cũng quen, cũng có kẹp tóc, búi tóc cả. Anh em du kích nhận ra em họ, con họ, vợ họ. Còn từ ngoài trông vào, các chị và các em gái chỉ thấy hang tối om, thấy những bàn tay chĩa ra chụp lấy họ. Tuy vậy, nghe tiếng nói, họ biết liền là chồng mình, là anh mình hay họ hàng lối xóm. Đều là những tiếng người thân thiết với mình cả. Năm ngày qua, họ không gặp mặt nhau, lo lắng cho nhau. Đêm thứ năm này, vầng trăng đã chứng kiến cái cảnh họ gặp nhau. Một nguồn cổ vũ kỳ lạ truyền đến cho từng người, ở trong cũng như ở ngoài, tại cửa hang mà năm ngày năm đêm địch không vào nổi. Nhữg người trong hang lòng náo nức biết rằng mình không cô độc. Những chị em sau khi vội vã chạy đi, họ mang theo cả niềm hy vọng rằng hang sẽ được giữ vững. Họ tin rằng đêm gặp gỡ hôm nay sẽ không phải là đêm cuối cùng.
    Nhưng khi chị em đã chạy đi hết thì vẫn còn một bóng đen thấp bé ở lại với bóng một con chó chạy quẩn theo. Cái bóng đó tọt vào hang, đụng nhằm anh Ba Rèn.
    Anh túm lấy, hỏi:
    - Ai đây, sao không chạy đi?
    - Tui, tui không về, tui có một trái lựu đạn!
    Anh Ba Rèn chợt kêu:
    - Trời ơi thằng út, mấy ông ơí
    - Tui ở lại, tui không về đâu
    Thằng út nói thế rồi luồn ra khỏi tay anh Ba Rèn, xớn xác quờ tay đi tới, đụng ai nó ôm nấy, ngọ ngoạy cái đầu trọc xửng bông gáo vô bụng những người đó. Nó cười khúc khích vẻ đắc chí.
    - Mấy thím đó về thấy mất tui chắc hoảng hồn dữ
    - út, út, mày đó hả út?
    Bên trong có nhiều tiếng hỏi mừng rỡ. Thằng út nhận ra anh Năm Tấn. Nó nói:
    - Chú Năm hả? Eo ơi, thím Năm ở nhà sợ chú chết rồi cứ thắp nhang vái tối ngày!
    - Cái thằng dóc quá.... Nè, anh mày bị thương nằm trong kia, vô thăm anh mày đí
    Thằng út đáp, giọng thản nhiên:
    - Tui biết rồi, gấp gì, chút xíu tui vô thăm ảnh. Ba tui cũng biết nữa, ba tui nói đánh giặc bị thương là thường... à mà quên, tui chộp được của tụi lính một trái "láng", tui có đem theo đây nè. Mai, hễ tụi nó đánh vô tui rút chốn chia hai!
    Trong hang mọi người nghe nói đều cười ồ:
    - Mày thiệt con nít, chừng nào nột quá mình mới làm vật, chớ nó còn ở xa thì cứ liệng thôi, chia hai chi cho uổng mạng?
    - Thằng út ậm ờ, nhưng nó nói bọc theo ngay:
    - Thì... thì tui nói là gặp nột đó chớ
    - ồ, nếu vậy thì được. Nhưng ở đây không đến nỗi ngặt quá phải chơi vậy đâu, bồ ơi! Hễ tụi nó vô là mình bắn hoặc liệng lựu đạn thôi!
    - Vậy thì ngon quá
    Thằng út xắng xở nói. Nó chợt hỏi:
    - Chị út Quyên đâu mấy chú, chị út Quyên đâu?
    - ở trong hang
    Chợt thằng út đứng sững lại. Thình lình, mọi người nghe nó khụt khịt mũi liên tiếp mấy cái. Bỗng dưng nó nức nở òa lên kêu: - "Mấy chú ơi, chị Ba chết rồi...ư...ư....ư...".
    Đứng giữa ngõ hang, nó khóc hù hụ. Ai kéo tay nó dỗ, nó cũng vùng ra, càu nhàu, tuồng như giận dỗi mọi người lắm vậy. Rồi cũng như lúc bắt đầu khóc, nó đột ngột ngưng khóc, đưa tay quệt nước mắt, hít mũi sẹt rẹt. Anh Hai Théo kéo tay nó, nói:
    - út à, thôi, bây giờ mày ở lại đây với tụi tao. Nhưng tao dặn sau đây vô trong hang, có gặp con Thúy, mày không được hở miệng nói má nó chết nghe chưa? Nó mà biết thì nó khóc tụi tao dỗ không xiết đâu... à, còn mày nói mày có một trái láng hả? Đâu, đưa đây, đưa tụi tao cất cho!
    Thằng út móc trái lựu đạn MK3 lộn ở lưng quần cụt ra đưa co anh Hai Théo. Nó dặn.
    - Chú cất giùm tui. Hễ mất thì tui mắc đền chú!
    - ừ, mất tao đền trái khác cho mày. Tụi tao có thứ này thiếu gì?
    Anh em đã lượm gom lại số lương thực của đồng bào tiếp tế. Họ bấm đèn kiểm lại thấy có tới mười hai chai nước, mười hai gói ốp bẹ chuối bọc cơm nếp, cơm tẻ, và vài cái gói mo cau non bọc sáu bánh thuốc lá giông, một túi thuốc thơm hiệu Ru-bi, Những ốp bẹ chuối đựng cơm còn in dấu dau rọc tươi rói, rỉ nước. Anh em mở thử ra một ốp thì thấy cơm nếp nén, bên trong còn ấm... Giữa cơm nếp, nhét đầy những miếng thịt gà chiên vàng, thơm sực mùi tỏi sả. Anh em reo lên.
    Phen này tươi rồi, nghe!
    Anh Ba Rèn bảo:
    Tối nay, phải bù lại mới được! Cho anh em ăn no, uống đã khát rồi tính gì thì tính. Sau đó mình hút Ru-bi, phun khói ra ngoài cho tụi lính ngửi chơi!
    Anh Hai Thép nói:
    Ru-bi thì có thể hút, nhưng ăn thì phải dè xẻn và uống đỡ khát thôi. Phải để dành... Có thể tụi nó còn vây mình lâu. Đề nghị giao tất cả những thứ này cho út Quyên giữ, để cô ta trọn quyền phân phối!
    Phải, để út Quyên giữ, nhưng còn thuốc hút tôi lãnh giữ cho!
    Chú Tư Nghiệp bảo. Mọi người đều cười rộ và đồng ý. Anh Ba Rèn le lưỡi.
    Chú Tư Nghiệp nghiêm giọng:
    Đừng nói vậy chớ Ba Rèn!... Tui coi trọng của chung chớ có "cá nhơn" cho tui đâu!
    Ba Rèn cười hà hà
    4
    Nỗi đau đớn của bà Cà Xợi hôm nay đã dâng lên tới cực độ. Hồi trưa, lúc thằng Xăm giơ dao chém Sứ, bà xô lại phía nó. Nhưng bọn lính xô bà ngã xuống, giẫm đạp lên bà khiến bà ngất xỉu.
    ... Bà Cà Xợi tỉnh dậy trong buổi chiều tắt nắng. Cà Mỵ chạy về đầu bù tóc rối, khóc và báo cho bà hay bà là Sứ đã chết. Cà Mỵ nói xong lại chạy đi. Chỉ còn lại mỗi mình bà sờ soạng trên bộ vạt tre, giữa gian nhà trống trước trống sau gió giật vách lá hai bên xành xạch, xành xạch. Mãi một lúc, bà mới ngồi nhổm dậy được. Đôi con mắt bà đờ ra, long lanh nắng quái. Đầu tóc vàng sém của bà xổ tung, mà những tia nắng chiều rọi lên, làm mớ tóc đỏ hoe hoe như nhuốm ánh lửa. Rồi khi hết nắng, và đêm nhòa tối, bà vẫn ngồi im không cục cửa. Bóng tối từ ngoài tràn vào phủ kín bóng bà. Đến lúc trăng lên, bóng bà Cà Xợi lại hiện ra, nhưng không phải ngồi trên bộ vạt tre nữa, mà là đứng dưới đất. Người mẹ Khơ me đau kổ đó trong cách đứng coi cũng lạ. Đôi chân bà hơi loạng doạng ra, hai bàn chân châu các ngón vào, bám bíu trên đất nền nhà khô nứt những đường kẻ. Hai cánh tay bà như dán sát vào nách, và bóng bà nổi rõ hơn, hơi chúi về phía trước. Trông như cái cây sắp đổ.
    Bà Cà Xợi đứng rất lâu. Có thể là bà đứng như vậy chừng non nửa tiếng đồng hồ. Thình lình, bà bước ra khỏi nhà, vẫn với cái dáng người ngã tới phía trước ấy, mà đi.
    Bà mò mẫm đi trên con đường đất dẫn tới ngã ba Sĩ Lỳ. Dọc đường, có khi bà chới với, loạng choạng, hoặc ngã dúi xuống, rồi lại lò mò đứng lên, đi lại. Cái hôm bà đến tiệm thím Ba ú mua rượu, bận về bà cũng vấp ngã. Nhưng lần đó, và cả những lần trước đó, không khi nào bà vấp ngã nhiều như hôm nay, bà Cà Xợi đau đớn đến điên dại thật rồi. Thằng con bà, sau một hời gian vắng xa Hòn Đất, nay trở về đã chém một cô con gái mà người Khơ me lẫn người Việt trên Hòn đều yêu mếm. Cô con gái và mẹ của cô lại là người ơn lớn của bà Cà Xợn. Hai mươi năm về trước, trong một đêm khuya sương giá, hai mẹ đã dìu bà về nhà, bao bọc cho bà sinh ra Cà Mỵ.
    Hồi đó, mới mười tuổi mà cô gái ấy đã là một cô bé nhân hậu rồi. Bà quên sao được nó đã tiếp sức với mẹ nó đưa bà về nhà. Đêm ấy, bà còn nhớ hai mẹ con đầu chùm khăn vì trời lạnh. Bà nhớ lắm. Khi anh Thạch Kha chết đi, gia đình mẹ Sáu đều thương bà, thương con Cà Mỵ, hết lòng đùm bọc cho cả hai mẹ con. Ơn lớn của gia đình mẹ Sáu, bà Cà Xợi vẫn ghi trong dạ. Bà không biết lấy gì mà đền đáp cho được. Thỉnh thoảng, bà cùng con Cà Mỵ tới tiếp mẹ Sáu vét mương, làm vườn hay vào ngày mùa thì gặt lúa, đập lúa phụ. Cái ơn kia chưa trả được bao nhiều thì nay, thằng con tàn ác do bà đẻ ra đã chém sả xuống thân cô con gái làm ơn cho bà dạo nọ.
    Thằng Xăm giết chết Sứ, đó là cái lý do khiến bà Khơ me già nua chất phác này đêm nay lảo đảo, đi không vững. Nhưng bà Cà Xợi đi đâu, bà muốn đi đâu? Nào ai biết được. Chỉ biết rằng bà đang đi vất vả, trên con đường có trăng và không lấy gì lồi lõm cho lắm... Bà đang đi những bước đi đau khổ. Nhưng rồi cái bóng của bà dưới ánh trăng, cũng lọ mọ hiện tới được chỗ ngã ba Sĩ Lỳ. Tại ngã ba, khi bà đi thẳng, lúc ấy mợi lộ ra ý định của bà. Bà muốn đi lại nhà mẹ Sáu. Nhưng bà đi mò mẫm, rụt rè và sợ hãi. Tới khoảng vườn xoài, bà không dám đi giữa lối, mà tạt vào mé vườn, lẩn qua sau các gốc xoài. Không biết bà đi tới nhà mẹ Sáu mất bao lâu. Chỉ biết khi tới đó, bà đã trông thấy bà con tụ tập đông đảo lắm rồi. ấy chính là lúc mọi người sắp liệm Sứ. Bà Cà Xợi không hề trông thấy cái cảnh mẹ Sáu âu yếm, chải tóc, bới tóc cho con, đứa con gái thuở lên mười đã có lần tận lực dìu bà Cà Xợi từ đồng rạ về nhà nó. Bà không nhìn thấy cảnh ấy, vì bà có dám đặt chân vào tới cái sân đông nghịt người đó đâu! Bà len lén ngồi thụp sau một bụi khóm, ở vệ đường. Tại đó, bà có nghe thấy tiếng khóc của mẹ Sáu trong nhà vẳng ra. Bà run lên khi nghe thấy tiếng khóc ấy. Và bà đưa tay bưng kín mặt.
    Khi các ngọn đuốc cháy rực giữa sân, chiếu sáng đến tận chỗ bà, bà hoảng hồn, mọp sát xuống. Lát sau, lúc bà con Hòn Đất người đuốc rầm rộ kéo đi bà ngó thấy cái hòm đỏ chói và mái tóc bạc óng của mẹ Sáu sau kẽ hở của bàn tay mình và kẽ hở của những kẽ lá khóm nhú gai sắc. Bà nín thở nhìn cái hòm, trái tim trong lồng ngực lép xẹp của bà thắt lại tưởng như không sao đập tiếp được nữa. Bởi vì bà biết rất rõ cô gái nằm trong cái hòm đó chính là Sứ. Nay Sứ đã nằm im, đã chết. Bà nhắm nghiền mắt lại. Cho dù bà nhiều lần từng nói thằng ác ôn đó không phải là con của bà, nhưng rõ ràng nó chính là con của bà, vì chính bà đã sinh ra nó. Trời ơi, cái đêm hôm ấy mới oi ả làm sao! Những bức tường của ngôi nhà nền đúc phông tô ấy mới dày kín làm sao! Tại đó, bà nằm rã rượi mồ hôi, bụng đau như xé, oằn oại mãi tới khuya mới đẻ lọt ra đứa bé, là thằng Xăm.
    ... Đám người đuốc đã lũ lượt kéo đi mút đuôi rồi. Có cả con Cà Mỵ của bà cũng đi nữa. Trong bụi khóm, mấy lần bà Cà Xợi nhấp nhổm muốn chạy theo họ. Nhưng bà không dám. Lần này thì bà không dám đi theo họ thật. Cà Mỵ thì khác. Còn bà, bà thấy mình là kẻ có tội, không phải mới bây giờ, nhưng bây giờ thì ghê gớm hơn, trực tiếp hơn, do đó bà không sao dám cất chân đi theo họ cho được.
    Họ đã đi hết rồi. Lửa đuốc chập chờn trên những lá cành phía trước, cuối cùng khuất hẳn. Cái sân sáng lửa ban nãy giờ lại mờ tối, bàng bạc ánh trăng. Chỉ còn lại một mình bà Cà Xợi ngồi bệt sau bụi khóm. Bên kia hàng khóm nhô lá nhọn sắc như những thanh kiếm, hiện mờ mờ cái khoảnh sân, cái bậc thang, cái gian nhà sàn vách ván hãy còn leo lét cháy một thếp đèn mỡ cá. Bà Cà Xợi mở to mắt ngó gian nhà trân trân, bắt đầu tư những nấc bậc thang năm xưa, nơi đó, người con gái Việt mới chết đã có lần ráng sức dìu bà lên. Năm xưa, trong gian nhà leo lét ánh đèn đó, bà đã sinh ra con Cà Mỵ, giữa lúc mẹ Sáu rút ra trong miệng bà những cọng rạ nhừ nát. Rồi cũng tại đây, anh Thạch Kha đến đón bà về.
    Xăm ơi, bọn mày ác quá, mày gieo tang tóc cho cái nhà đã đùm bọc mẹ mày trong cơn khốn đốn! Mày đã về hùa với cha mày mà giẫm đạp lên trái tim mẹ mày rồi đó Mày là con dao độc ác cứa đứt mẹ mày ra khỏi mọi người! Vì mày mà mẹ mày phải lẩn trốn trong đêm tối, không dám chạm mặt bà con.
    "Sao ả-rạt đâu không vật mày đi cho rồi! Tao cầu ả-rạt vật mày chết, để có đau tao chỉ đau mỗi một lần, khỏi bị cứa đứt như vầy nữa!"
    Bà Cà Xợi nguyền rủa đứa con mình. Rồi bà chới với đứng dậy, vạch lá khóm đi ra. Bà đi vào sân nhà mẹ Sáu, bụng nghĩ phải lên tắt thếp đèn đó mới được, chớ để vậy hao mỡ quá. Tới chân bậc thang lên sàn nhà; bà đưa tay rờ rẫm bậc thang, như kiếm vật gì đánh rơi. Cứ đặt chân leo lên mỗi bậc thang là bà lại rờ rẫm, như vậy. Lâu nay bà mới lên đến sàn, lần tới cái cửa bỏ ngõ. Tới cửa bà nhìn thấy ngọn đèn để trên bàn thờ vờn qua vờn lại trước gió. Đồng thời bà trố mắt rú lên khi trông thấy bên cạnh thếp đèn buông rủ một mớ tóc đen nhánh. Bà chỏi hai bàn tay về phía mớ tóc, đi giật lùi, rồi vùng chạy xuống thang. Bỗng nhiên, ngực bà như bị những đôi giày lính ban trưa tiếp tục giẫm mạnh. Bà nín thở một cái, và ngã xuống ở bậc thang cuối cùng.
    Vào khoảng gần nửa đêm, mẹ Sáu và những bà con đi chôn Sứ về tới nhà gặp bà Cà Xợi nằm dưới bậc thang. Mọi người lấy làm lạ, vực bà lên nhà, cởi áo xống, đánh gió cho bà. Mẹ Sáu đưa mắt lặng lẽ nhìn đầu tóc vàng sém của bà Cà Xợi rồi ngoảnh đi nơi khác. Mẹ ngồi trân trân một lúc, mội bậm chặt. Bỗng mẹ đứng dậy đi vào bếp. Lát sau, mẹ trở ra, cầm một củ gừng già đưa cho chị Hai Thép. Chị Hai Thép cầm củ gừng, liếc thấy mắt mẹ rân rấn. Nhưng mẹ vẫn cắn chặt môi, không nói một tiếng nào cả. Chị Hai Thép nhai củ gừng cho giập ra, xát mạnh lên lưng bà Cà Xợi. Sau đó, chị dùng cái sống lược cạo sồn sột. Thím Ba ú giựt tóc cho bà. Không bao lâu, đã nghe bà rên khe khẽ.
    Mọi người đã cứu được bà tỉnh dậy.
    Nhưng khi tỉnh dậy, hoàn hồn nhớ ra mọi việc và sực trông thấy mẹ Sáu, bà Cà Xợi vụt nhào từ trên ván xuống, lết tới, sụp dưới chân mẹ Sáu mà lạy. Bà vừa lạy vừa khóc ròng. Bà kêu lơ lớ:
    Bà giết tôi đi, bà Sáu lấy cây dao cắt cổ tui đi...!
    Mẹ Sáu ngồi trơ ra đó. Rồi mẹ cũng khóc mùi
    Chị Hai Thép lôi bà Cà Xợi ra, đỡ bà trên tay. Chị nói:
    Bà Sáu không giết thím đâu... Thím đừng lạy, đừng khóc nữa. Bà Sáu với lối xóm đây có thù là thù thằng Xăm, thù thằng Mỹ – Diệm chớ không thù bà Cà Xợi đâu.
    Tui phải giết thằng Xăm!
    Bà Cà Xợi chồm dậy la lớn. Những ngón tay đen đúa của bà co quắp lại. Mắt bà mở trừng trừng nhìn ra ngoài cửa. Thím Ba ú nói:
    Thôi bây giờ tôi đưa thím về nhà nghỉ, nghe?
    Tui đi, mình ên tui đi được!
    Không, tôi đưa thím đi...
    Thím Ba ú vừa nói vừa nắm tay bà Cà Xợi dắt đi.
    Thím đưa bà đi được một đỗi thì gặp Cà Mỵ cũng đang hoảng hốt chạy tìm mẹ. Thím bảo Cà Mỵ:
    Con Mỵ đưa má bây về! Phải coi chừng, má bây vừa mới xỉu nữa đó!
    Cà Mỵ dìu mẹ về tới nhà thì gà trong xóm đã gáy rộn. Nhưng Cà Mỵ biết đêm chưa tàn. Đấy là gà ngủ được một giấc, mở mắt thấy ánh trăng ngỡ trời sáng nên cất tiếng gáy.
    Cà Mỵ đặt mẹ lên vạt xong, cô ngồi bệt xuống đất, lưng dựa vào chân vạt. Cô gục đầu xuống, đôi tay khoanh nơi gối, nghĩ tới chị Sứ, nghĩ tới cuộc gặp gỡ tại Hang Hòn ban nãy, nghẹn ngào căm tức thằng Xăm. Khác với mẹ mình, Cà Mỵ không đến nỗi đau đớn như thế. Mức độ đau đớn của cô có khác. Cô căm tức nhiều hơn và thương chị Sứ kông biết để đâu cho hết. Sau cái chết của chị Sứ, giờ đây Cà Mỵ càng sẵn sàng lao mình vào bất cứ việc gì để hỗ trợ cho cuộc chiến đấu trong hang, để báo thù cho chị Sứ, đồng thời như là để chuộc lại mọi tội lỗi mà thằng anh tàn bạo của cô đã gieo xuống đất này.
    Cà Mỵ ngồi im tới trăng lặn. Giờ thì gà đã te te gáy sáng thật. Cô đứng dậy, đến đằng nhà chị Hai Thép.
    Cà Mỵ vừa ra khỏi nhà thì thằng Xăm mò đến. Cùng đi với hắn có tên lính hộ vệ người bé nhỏ, đôi mắt láo liên. Đây là lần thứ hai thằng Xăm ghé qua nhà mẹ. Đầu hắn vẫn đội sụp cái kết ba rèm.
    Lưỡi trai vải phía trước che muốn hết cái trán vốn đã ngắn của hắn, chỉ để lộ ra hai tròng mắt trắng dã. Thằng Xăm đi nghiêng nghiêng, vai trái hơi xệ xuống, không nhúc nhích. Tên lính loắt choắt đi trước vào nhà. Thằng Xăm chưa vào. Trong lúc trời đất còn mờ mờ chưa tỏ hẳn, hắn đứng giữa sân, niễng đầu nhìn lu nước, nhìn gian nhà trống trước trống sau... Hắn lắng tai nghe tiếng gió giật chái là xành xạch. Trước mặt hắn cây sua đũa với vòm lá thưa loang thoáng hơi sương lâu lâu lại rụng xuống vài bông trắng. Những cái bông sua đũa êm ái chạm mặt đất, không phát ra một tiếng động. Đâu đây xông vào mũi thằng Xăm mùi bùn non quăng quăng của một cái ao mới cạn. Những cái đó, từ tiếng gió giật, từ cành hoa rụng trong đêm tàn, từ mùi bùn tất cả hình như gieo vào lòng thằng biệt kích ác ôn nỗi trắc ẩn. Đứng lại mảnh sân nhà hiu quạnh của người mẹ, thằng biệt kích chừng như mới bắt đầu có lại được cảm giác thông thường của con người. Nhưng không chịu nổi lâu với cảnh đó, hắn quay phắt, đi lục xục vào nhà. Bà Cà Xợi đã thức dậy, ngồi trên bộ vạt, chân thõng xuống. Bà đã biết có thằng Xăm về, vì tên lính hộ vệ vào trước đã cho bà hay.
    Thằng Xăm vào nhà, đi tới đi lui. Hắn dừng lại trước mặt bà Cà Xợi hỏi:
    Tụi nó đánh má có đau không?
    Bà Cà Xợi không đáp
    Thằng Xăm đi tới đi lui, cánh tay trái vẫn ngay đơ:
    Mà má đi theo mấy con mẹ đờn bà Hòn Đất làm chi... Phải không có má ở đó, tui ra lệnh bắn té hết!
    Đứng lại giữa nền nhà giờ đã sáng ra, hắn đưa tay mặt bợ cánh tay trái bị thương, hậm hực nói:
    Cái con Sứ đó cứng cổ quá, chém ba dao không dứt. Đồ đờn bà ngu, theo Việt cộng chi cho t thảm thiết. Con mẹ của nó bạc đầu mà cũng như vậy. Biểu khuyên lơn con, không chịu là không... Nè, má biết hôn, tụi trong hang gần chết hết rồi. Không cơm ăn, không nước uống, chịu sau thấu... Chút nữa ráo ráo sương, tui cho lính chất rơm trộn ớt đốt hang nữa, cho thằng nào con nào ở trỏng cũng phải chun ra hết.
    Nghe thằng Xăm nói, bà Cà Xợi vẫn nín thinh. Thỉnh thoảng bà liếc mắt nhìn nó. Cái liếc nhìn của bà sáng nay trông dễ sợ. ánh mắt bà vừa tỉnh táo, vừa dại dại.
    Thằng Xăm chợt hỏi:
    Má nè, con Mỵ đâu rồi?
    Nó đi vô xóm!
    Thằng Xăm ngồi lên bộ ván giữa, ngã người nằm xuống. Hắn ngó lên nóc nhà giây lâu bỗng nhổm người dậy:
    Lần này tiêu diệt hết Việt cộng rồi, tôi đóng bót ở đây. Ruộng vườn của ông già, tôi lấy lại ráo. Ai làm ruộng phải nộp lúa ruộng, ai làm vườn phải nộp tiền vườn. Mấy năm rồi, ai giựt thì bây giờ phải nộp thoái, không được thiếu một hột lúa!
    Bà Cà Xợi nghe hắn nói, ngồi im một chốc mới thốt:
    Thằng Xăm mày nói đóng bót vậy chớ có chắc không?
    Xăm chỏi chân bật đứng ngay lên:
    Chắc chớ. Nhứt định là tôi đóng bót, cất nhà lại đàng hoàng. Má với con Mỵ cứ ở không ăn, khỏi nắn nồi, đươn đát chi cho cực. Lâu lâu tôi cho xe đưa hai người lên Rạch Giá chơi. Tôi biểu vơ tôi sắm cho con Mỵ nhiều quần áo tốt. Con Mỵ mà sửa soạn vô coi ngộ lắm...
    Thì để coi coi...
    Bà Cà Xợi nói giọng như thường
    Đoạn bà bước xuống bộ vạt, đi ra sau chuồng gà bắt luôn hai con gà tơ trói lại. Bà xách hai con gà liệng giữa nhà nói:
    Xăm à, mày với chú lính đây ở lại ăn cơm nghe?
    Được, được!
    Vẻ mặt thằng Xăm hớn hở hẳn lên. Hắn lột cái kết ba rèm, trên đầu liệng xuống ván. Rồi hắn co giày khẽ đá hai con gà, khen:
    Hai con gà này mậy đâý
    Hắn vui vẻ móc bóp, lấy một tờ bạc hai trăm đưa tên lính:
    Hai Nhỏ, mày đi mua rượu. Coi ở tiệm có gì nhậu được không cứ mua thêm!
    Thằng lính Hai Nhỏ rón cầm tờ bạc. Thằng Xăm tháo cái bi-đông rượu, chớ một bi-đông thì không thể nào uống đủ. Thằng lính Hai Nhỏ đi ngay. Đi tới cửa nó sực nhớ cây súng trên bộ ván, quay lại tính lấy. Thằng Xăm khoát tay:
    Cứ đi đi, để súng đây tao coi cho. Không lẽ Việt cộng ở trong hang lòn ra đây giựt súng sao mà sợ!
    Tên Hai Nhỏ đi rồi, thằng Xăm vẫn tiếp tục sống trong cái trạng thái vui vẻ. Có lẽ đời hắn dạo ần đây chưa bao giờ được vui như vậy.
    Bà Cà Xợi nhóm bếp, bắc cái trã đất lên nấu nước. Thằng Xăm nói:
    ở xứ Hòn này xài cái gì cũng bằng đất, dở quá. Để rồi mua xoong nhôm chảo sắt mà nấu. ở trên Rạch Giá bây giờ đâu có ai xài thứ nồi om trã đất này nữa!
    Bà Cà Xợi cầm con dao dâu kề vào cổ con gà, nghe hắn nói thế thì dừng dao ngó xuống. Bà nhổ thêm mấy cái lông nơi cổ gà rồi kề lưỡi dao cắt. Con gà hấp him đôi mắt, kêu khe khẽ trong cuống họng. Máu ở cổ gà phì ra nhểu toong toong xuống cái ơ đất kê bên dưới. Thằng Xăm ngồi chổm hổm một bên coi. Hắn buột miệng lẩm bẩm:
    Coi giống máu ở cổ con Sứ nhểu xuống hôm qua quá!
    Lần này, bà Cà Xợi bủn rủn muốn buông dao. Tim bà thắt lại, nhưng bà cố nén. Cầm con dao cắt cổ nốt con gà thứ hai. Thằng Xăm thì vẫn ở trong cái tâm trạng vui vẻ. Hắn giúp bà Cà Xợi một tay, vặt lông gà. Bà Cà Xợi lặng thinh làm gà. Một con gà đem luộc nước dừa xiêm, một con đem rang muối. Hai món này người Khơ me rất ưa. Một mình bà đứng trông hai bếp. P bà bắc cái ơ đổ tràn nước dừa, một bếp bà bắc cái nồi om đất. Trong nồi đã có bỏ muối hột và lót vỉ tre. Đợi muối bắt đầu nóng nhảy trong nồi bà Cà Xợi mới đặt con gà đã nhỏ hết nước lên vỉ, rồi đậy kín nắp vung. Bà trông coi hai cái bếp rất kỹ, mắt nhìn nước dừa sủi tăm và tai lắng nghe tiếng muối nổ lắc rắc. Có lẽ trong suốt đời mình chưa có khi nào bà Cà Xợi nấu nướng chăm chú, cẩn thận như buổi sáng nay.
    Lúc tên lính Hai Nhỏ xách hai bi-đông rượu về, thì lát sau gà cũng đã luộc và rang xong. Con gà luộc chín mọng. Con gà rang khô se.
    Bà Cà Xợi xé gà xếp vun hia vịm nhỏ, đâm muối ớt và xắc chuối cây trộn ghém. Bà bày đầy cc mâm gỗ cũ kỹ mòm mép, dọn lên bộ ván giữa.
    Trong bữa ăn, bà Cà Xợi không ăn mấy. Bà uống rượu từng chén, ép thằng Xăm và tên lính cùng uống. Đây là bữa đầu tiên bà Cà Xợi ăn chung mâm với con. Thằng Xăm với tên lính Hai Nhỏ nốc rượu ừng ực, ăn thịt gà ngốn ngấu. Hai bi-đông rượu đều cạn, nhưng gà chỉ còn lại hơn nửa con. Bà Cà Xợi nói:
    Để dành cho con Mỵ!
    Ăn xong, tên Hai Nhỏ lăn ra ngủ. Thằng Xăm ngồi nói bâng quơ vài câu rồi cũng ngã ra ván quờ tay chụp cái kết vải đậy mặt. Lát sau hắn cất tiếng ngày khò khò.
    ..... Bây giờ thì Bà Cà Xợi đã đến đứng sát bên bộ ván thằng Xăm ngủ. Tay phải bà xách cây dao dâu. Tay trái bà run rẩy kéo nhẹ cái kết "ba rèm" trên mặt thằng Xăm ra. Mắt hắn vẫn nhắm nghiền, bộ mặt hắn bóng nhoáng, nhờn nhờn. Bộ mặt này trước kia đã có lúc bà Cà Xợi ghì sát vào lòng, hôn hít. Đôi môi này trước đã ngoạm bú vú bà chùn chụt. Nay bộ mặt ấy thay đổi quá. Hồi đó nó còn là một đứa bé. Nay nó là một thằng biệt kích, một kẻ đã từng mổ bụng, moi mật và ăn gan người. Hồi đó nó chả biết gì. Thế mà bây giờ nó biết sống chết cố dựng lại ngôi nhà trên chính cái nền nhà của cha nó bị nông dân phá sụp. Người ơn của mẹ nó thì nó chém chết không thương tiếc, rồi còn bảo con gà bị cắt bcổ nhểu máu thế nào thì người bị nó chém cũng nhểu máu như vậy.
    Mẹ nó vốn xuất thân là một người nắn nồi đất, thế mà bây giờ nó nói nồi đất chẳng ra gì, sánh với nồi nhôm. Nó chẳng biết mẹ nó ngày xưa sống được là nhờ những cái nồi đất ấy. Nó cũng chẳng cần biết có nồi đất thì người nghèo như mẹ nó mới nấu được cơm, và có nồi đất thì mới cất được nên rượu nếp nồng nàn mà nó vẫn ưa uống hơn cả.
    Thằng Xăm là đứa biết và không biết một cách có ý thức về mọi điều đó.
    Tuy nhiên có lúc, hắn còn biết nghĩ đến một điều là nghĩ về mẹ và đứa em gái hắn. Mặc dù điều này cũng rất đỗi mong manh, nhưng chính bởi cái đó nên đã ba lần bà Cà Xợi giơ dao lên rồi lại từ từ hạ xuống.
    Khốn thay cái khả năng duy nhất có thể cho phép thằng Xăm thoát hiểm cũng lung lay nốt,ng tội lỗi trên kia đã choáng phủ tất cả, xóa đi tất cả, không để người mẹ còn nhận được hắn là con của mình nữa. Cho nên sau những phút chần chừ do dự, bà Cà Xợi dựng con dao dâu vào vách và chạy ra khỏi nhà. Hồi lâu, giữa lúc thằng Xăm và tên lính hãy còn ngủ có hai bóng người lẻn vào cửa sau. Đó là hai du kích còn náu lại ngoài xóm... Một anh du kích đứng cầm trái lựu đạn gác cửa, còn một anh cầm mã tấu phăm phăm đi riết vào chỗ thằng Xăm ngủ.
    Thằng Xăm chết ở nhát mã tấu chem phụt xuống rất nặng và gọn.
    Đầu hắn đứt lìa văng ra cách cái cổ đang phun máu của hắn chừng nửa gang tay. Tên lính Hai Nhỏ nghe động giựt mình choàng dậy, chụp súng. Nó cũng liền bị anh du kích chém đổ ngay xuống ván. Nhát mã tấu này ăn xếch từ dưới lạm cằm lên tới mang tai tên lính xấu số. Lưỡi mã tấu mắc dính trong đó, anh du kích loay hoay mất một lúc, mới nhấc ra được.
    5
    Nắng trưa đã rọi thẳng xuống đỉnh các ngọn dừa. ánh nắng in thành vệt trên những đống rơm chất dài trong vườn. Cạnh đó, mấy bao tải chứa ớt khô và vôi bột mà bọn giặt mới vác từ suối đến cứ xếp chồng lên nhau.
    Đợi mãi chẳng thấy trung úy Xăm đâu, tên thiếu úy Ba ra lệnh cho bọn lính bắt đầu đội rơm lên đầu, chia thành hai cánh, men vào hai bên mép miệng hang. Trông những tên lính vác rơm thật buồn cười. Chúng đi rón rén như kẻ trộm, mặc dù hai khẩu đại liên của chúng đặt trong mé vườn đã được nạp đạn, chĩa nòng vào miệng hang để đề phòng bất trắc. Bọn lính nối đuôi nhau đi mỗi lúc một xa. Khi chúng đi vào tới vạt cỏ ống che khuất, đến lưng, thì chỉ còn thấy những đống rơm biết đi, xô đẩy, hêu hêu trên đầu ngọn cỏ.
    Chúng đến hai bên mé hang, hất rơm trên đầu xuống thành hàng đống dài, vàng lóa. Những thằng lính vác các bao ớt bột, vôi bột men ra sau cũng đã đi được nửa đường. Sau rốt tên thiếu úy gọi mấy thằng lính vác sào tre dài lêu đêu, vàng óng, xông vào. (Những cây tre này chúng vừa đốn hồi sáng ngoài bãi tre. Và do đó bà con đã kéo tới chỗ tên thiếu tá làm ầm lên. Khi tến thiếu tá chịu xuất tiền bồi thường thì những thằng lính đó mới vác tre đi được).
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Xuân Diện @ 22:33 26/01/2011
    Số lượt xem: 424
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến