Welcome to BLOG

Phần mềm bản quyền miễn phí hàng ngày

Giveaway of the Day

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    LIÊN KẾT BÁO

    LIÊN KẾT THÀNH VIÊN ViOLET

    Chức năng chính 1

    Chào mừng đến với BLOG TRUYỆN

    Blog Truyện là website chia sẻ tài liệu nên xin được bỏ qua vấn đề về bản quyền tác giả. Nếu có yêu cầu gì xin được liên hệ qua dienbd79@gmail.com
    Gốc > THƠ QUA CÁC GIAI ĐOẠN > Thơ ca trung đại > Nguyễn Đình Chiểu >

    Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu (Câu 1400 - 1599)

    Canh chày chẳng ngủ những thao thức hoài
    Thất tình trâm nọ biếng cài
    Dựa mành bỏ xõa tóc dài ngồi lo
    Chiêu Quân xưa cũng cống Hồ
    Bởi người Diên Thọ họa đồ gây nên

    Hanh Ngươn sau cũng chẳng yên
    Vì người Lư Kỷ cựu hiềm còn ghi
    Hai nàng chẳng đã phải đi
    Một vì ngay chúa, một vì thảo cha
    Chiêu Quân nhảy xuống giang hà
    Thương vua nhà Hán, nàng đà quyên sinh
    Hạnh Ngươn nhảy xuống Trì-linh
    Thương người Lương Ngọc duyên lành phôi pha
    Ðến nay phận bạc là ta
    Nguyện cùng bức tượng trót đà chung thân
    1415.Tình phu phụ nghĩa quần thần
    Nghĩa xa cũng trọn, ơn gần cũng nên
    Nghĩa tình nặng cả hai bên
    Nếu ngay cùng chúa lại quên ơn chồng
    Sao sao một thác thời xong
    Lấy mình báo chúa, lấy lòng sự phu
    Kiều công nương gối đang lo
    Nghe con than thở mấy câu thêm phiền
    Kêu vào ngồi dựa trướng tiền
    Lấy lời dạy dỗ cho tuyền thân danh

    Chẳng qua là việc triều đình
    Nào cho có muốn ép tình con chi
    Nàng rằng: Con kể chi con
    Bơ vơ chút phận, mất còn quản bao
    Thương cha tuổi tác đã cao
    E khi ấm lạnh buổi nào biết đâu
    Tuổi già bóng xế nhành dâu
    Sớm xem tối xét, ai hầu cho cha
    Công rằng: Chi xá việc nhà
    Hãy an dạ trẻ mà qua nước người
    Hôm nay đã tới mồng mười
    Khá toan sắm sửa hai mươi tống hành
    Nàng rằng: Việc ấy đã đành
    Còn lo hai chữ ân tình chưa xong
    Con xin sang lạy Lục ông
    Làm chay bảy bữa trọn cùng Vân Tiên
    Ngõ cho nhân nghĩa vẹn tuyền
    Phòng sau xuống chốn huỳnh tuyền gặp nhau
    Kiều công biết nghĩ trước sau
    Dạy đem tiền bạc cấp hầu đưa đi

    Lục ông ra rước một khi
    Nguyệt Nga vào đặt lễ nghi sẵn sàng
    Ngày lành giờ ngọ đăng đàn
    Ăn chay nằm đất cho chàng Vân Tiên
    Mở ra bức tượng treo lên
    Trong nhà cho tới láng giềng đều thương
    Nguyệt Nga cất tiếng khóc than
    Vân Tiên anh hỡi suối vàng có hay
    Bảy ngày rồi việc làm chay
    Bàn đem tiền bạc tạ rày Lục ông
    1455.Trông chồng mà chẳng thấy chồng
    Ðã đành một chữ má hồng vô duyên
    Rày vua gả thiềp về Phiên
    Quyết lòng xuống chốn cửu tuyền thấy nhau
    Chẳng chi cũng gọi là dâu
    1460.Muốn lo việc nước, phải âu việc nhà
    Một ngày một bước một xa
    Của này để lại cho cha dưỡng già.
    Lạy rồi nước mắt nhỏ sa
    Ngùi ngùi từ giã bước ra trở về

    Các quan xe giá bộn bề
    Năm mươi thể nữ hầu kề chân tay
    Hai mươi nay đã đến ngày
    Các quan bảo hộ đưa ngay xuống thuyền
    Nguyệt Nga vội khiến Kim Liên
    Lên mời thân phụ xuống thuyền xem qua
    Công rằng: Dạ đã xót xa
    Con đừng dùn thẳng cho cha thảm sầu
    Nàng rằng: Nước non cao sâu
    Từ đây xa cách khôn hầu thấy cha
    Thân con về đất Ô-qua
    Ðã đành một nỗi làm ma đất người
    Hai phương Nam Bắc cách vời
    Con xin gửi lại một lời làm khuây
    Hiu hiu gió thổi ngọn cây
    Ấy là hồn trẻ về rày thăm cha
    Kiều công lụy ngọc nhỏ sa
    Các quan ai nấy đều thương
    Chẳng qua việc ở quân vương
    Cho nên phụ tử hai đường xa xuôi

    Buồm trương thuyền vội tách vời
    Các quan đưa đón ngùi ngùi đứng trông
    Mười ngày đã tới ải Ðồng
    Mênh mông biển rộng đùng đùng sóng xao
    Ðêm nay chẳng biết đêm nào
    Bóng trăng vặc vặc, bóng sao mờ mờ
    Trời trên lặng lẽ như tờ
    Nguyệt Nga nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn
    Than rằng: Nọ nước kìa non
    Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu
    Quân hầu đều ngủ đã lâu
    Lui ra một bức rèm châu một mình
    Vắng người có bóng trăng thanh
    Trăm năm xin gửi chút tình lại đây
    Vân Tiên anh hỡi có hay
    Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng
    Than rồi lấy tượng vai mang
    Nhằm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay
    Kim Liên thức dậy hoảng thay
    Cùng quân thạ nữ một bầy đều lo

    Cùng nhau đều chẳng dám hô
    Thầm toan mưu kế chẳng lo lậu tình
    Việc này là việc triều đình
    Ðốc quan hay đặng ắt mình thác oan
    Muốn cho cẩn nhiệm trăm đàng
    Kim Liên thế lấy làm nàng Nguyệt Nga
    Trá hôn về nước Ô qua
    Ai mà vạch lá, ai mà tìm sâu
    Tính rồi xong xả chước mầu
    Phút đâu thuyền đã đến đầu ải quan
    Ðốc quan xe giá sửa sang
    Kiệu trương long phụng, rước nàng về Phiên
    Ai hay tì tất Kim Liên
    Ðặng làm hoàng hậu nước Phiên trọn đời
    Nguyệt Nga nhảy xuống giữa vời
    1Sóng thần đưa đẩy vào nơi bãi rày
    Bóng trăng vừa khuất ngọn cây
    Nguyệt Nga hồn hãy chơi rày âm cung
    Xiết bao sương tuyết đêm đông
    Mình nằm giữa bãi lạnh lùng ai hay

    Quan âm thương gái thảo ngay
    Bèn đem làng lại để rày vườn hoa
    Dăn rằng: Nàng hỡi Nguyệt Nga
    Tìm nơi nương náu cho qua tháng ngày
    Ðôi ba năm nữa gần đây
    Vợ chồng sau sẽ xum vầy một nơi
    Nguyệt Nga giây phút tỉnh hơi
    Ðịnh hồn mới nghĩ mấy lời chiêm bao
    Thiệt hư chưa biết làm sao
    Bây giờ biết kiếm nơi nào gửi thân
    Một mình luống những bâng khuâng
    Phút đâu trời đã rạng hừng vừng đông
    Một mình mang bức tượng chồng
    Xẩy đâu lại gặp Bùi ông dạo vườn
    Ông rằng: Nàng ở hà phương
    Việc chi mà tới trong vườn hoa ta
    Nàng rằng: Trận gió hôm qua
    Chìm thuyền nên nỗi mình ra thế này
    Tối tăm sẩy bước tới đây
    Xin soi xét tới thơ ngây lạc đường

    Bùi ông đứng ngắm tướng nàng
    Chẳng tranh đài các cũng hàng trâm anh
    Ðầu đuôi han hỏi sự tình
    Nàng bàn lời thiệt việc mình bày qua
    Bùi ông mừng rước về nhà
    Thay đổi xiêm áo nuôi mà làm con
    Rằng: Ta sinh đặng chồi non
    Tên là Bùi Kiệm hãy còn ở kinh
    Trong nhà không gái hậu sinh
    Ngày nay lại gặp minh linh phước trời
    Nguyệt Nga ở đã an nơi
    Ðêm đêm nghĩ lượng sự đời gần xa
    Một lo về nước Ô-qua
    E vua bắt tội cha già rất oan
    Hai lo phận gái hồng nhan
    Sợ khi bảo dưỡng mưu toan lẽ gì
    Nguyệt Nga luống những sầu bi
    Xẩy đâu Bùi Kiệm tới khi về nhà
    Từ ngày thấy mặt Nguyệt Nga.
    Ðêm đêm trằn trọc phòng hoa mấy lần

    Thấy nàng thờ bức tượng nhân
    Nghiệm trong tình ý dần lân hỏi liền
    Tượng này sao giống Vân Tiên
    Bấy lâu thờ có linh thiêng điều gì?
    Nàng rằng: Làm phận nữ nhi
    Một câu chánh tiết phải ghi vào lòng
    Trăm năm cho trọn đạo tòng
    Sống sao thác vậy, một chồng mà thôi
    Kiệm rằng: Nàng nói sai rồi
    Ai từng bán đắt mà ngồi chợ trưa
    Làm người trong cõi gió mưa
    Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào
    Chúa xuân còn ở vườn đào
    Ong qua bướm lại biết bao nhiêu lần
    Chúa xuân ra khỏi vườn xuân
    Hoa tàn nhụy rữa như rừng bỏ hoang
    Ở đời ai cậy sang giàu
    Ba xuân dẫu hết ngàn vàng khôn mua
    Hay chi như vãi ở chùa
    Một căn cửa khép, bốn mùa lạnh tanh

    Lênh đênh một chiếc thuyền tình
    Mười hai bến nước gửi mình vào đâu
    Ai từng mặc áo không bâu
    Ăn cơm không đũa, ăn trầu không cau
    Nàng sao chẳng nghĩ trước sau
    Giữ ôm bức tượng bấy lâu thiệt mình,
    Nàng rằng: Tằng đọc sử kinh
    Làm thân con gái chữ trinh làm đầu
    Chẳng phen thói nước Trịnh đâu
    Hẹn người tới giữa vườn dâu tự tình
    Kiệm rằng: Ðã biết sử kinh
    Sao không suy xét để nằm không
    Hồ Dương xưa mới góa chồng
    Còn mơ nhan sắc Tống công cũng vừa
    Hạ cơ lớn nhỏ đều ưa


    Chú thích:
    1.Chiêu Quân: Vương Tường tự là Chiêu Quân, một cung nhân của Nguyễn đế nhà Hán, sau bị gã cho vua Hung-Nô. Ði thuyền vào quá nội địa Hung-Nô, Chiêu Quân nhảy xuống sông Hắc-Hà tự tử. "Chiêu Quân cống Hồ" một đề tài thường được các nhà thơ văn xưa nay ca ngợi thương tiắc.
    2.Hạnh Ngươn (Nguyên): một nhân vật trong truyện Nhị Ðộ Mai. Cũng như Chiêu Quân, Hạnh Nguyên bị bắt đi cống Hồ và cũng tự tử nhưng có người cứu vớt.
    3.Cựu hiềm: thù cũ
    4.Ngay chúa: trung với vua. Thảo cha: hiếu với cha. Nói một đằng Chiêu Quân, một đằng Hạnh Nguyên theo mệnh cha, hai người phải trọng đạo trung với đạo hiắu mà đành đi hiến thân cho nước Hồ.
    5.Quyên sinh: vứt bỏ cái mạng sống, tự tử
    6.Chung thân: trọn đời, đến khi chết
    7.Nghĩa xa cũng trọn, ơn gần cũng nên: nói nghĩa vua tôi cũng như ơn (tình) vợ chồng cùng phải giử cho trọn vẹn .
    8.Sự phu: thờ chồng. nói: chết đi thì mới có thể được cả hai bề : báo chúa , thờ chồng .
    9.Trướng tiền: trước màn
    10.Thân danh: thân mình và danh dự
    11.ấm lạnh buổi nào biết đâu: nói không biết lúc nào khoẻ lúc nào ốm .
    47.Bóng xế nhành dâu: như nói bóng xế về Tây. Sách Hoài Nam Tử nói: mặt trời xế về Tây, gác bóng trên ngọn cây, gọi là "tang du" (tang: cây dâu, du: một loài cây cao, gỗ bền chắc, thường dùng chế khí cụ). Người sau mượn dùng hai chữ "tang du" này để chỉ phương Tây hay ví với tuổi già.
    12.Tống hành: tiễn người lên đường.
    13. Ðăng đàn: lên đàn tế lễ.
    14. Bức tượng: đây là bức tranh truyền thần.
    15.Cửu tuyền: chín suối, chỉ dưới đất sâu, tức cõi chết, cũng như nói "hoàng tuyền" (suối vàng).
    16.Xe giá: xe dùng cho vua, gia đình vua, hoặc các bậc vương hầu. Ðây Nguyệt Nga được coi là vợ vua Phiên, nên các quan đưa xe giá đến đón một cách rộn rịp.
    17.Thể nữ (con gái):con gái hầu trong cung vua, tức cung nữ. Ðây Nguyệt Nga đã coi là hoàng hậu phi, nên con gái đưa đến hầu nàng, cũng gọi là thể nữ.
    18.Bảo hộ: giữ gìn hộ vệ.
    19.ải Ðồng: cửa ải Ðồng-Quan, xem chú thích câu 1375
    20.Tóc tơ: kết tóc xe tơ, tức tình nghĩa vợ chồng.
    21.Rèm châu: chính nghĩa là một thứ rèm bện bằng ngọc châu, sau thường dùng để chỉ chung những thứ rèm quí.
    22.Lậu tình: tiết lộ tình hình để cho người ngoài biết chuyện.
    23.Ðốc quan: chức quan đôn đốc việc Nguyệt Nga đi cống Phiên.
    24.Cẩn nhiệm: cẩn thận bí mật.
    25.Trá hôn: giả mạo trong công việc cưới gả, nghĩa là không đúng người đã đính ước.
    26.Long phụng: lọng che vẽ hình chim phượng.
    27.Âm cung: âm phủ, cõi chết. nói Nguyệt Nga còn mê mệt chưa tĩnh .
    28.Quân âm: tức Quan Thế Âm, tên một vị Phật, quan là nghe xem, thế âm là âm thanh của người đời, vị Phật này thường nghe xem những tiếng kêu khổ nạn của người đời mà tìm đến chỗ giải cứu cho, nên gọi như thế.
    29.Ðịnh hồn: tỉnh lại, hồn được yên định lại
    30.Hà phương: phương nào, nơi nào?
    31.Ðài các: dinh thự và lầu gác, chỉ nơi quan chức quyền quí. Trâm anh: cái gài tóc và cái dải mũ, chỉ hạng người sang cả.
    32.Minh linh: một loại sâu (sau hóa bướm) thường cuộn tổ ở lá lúa, lá rau mà cắn hại. Kinh Thi có câu: "Minh linh hữu tử, quả lõa phụ chi", nghĩa là minh linh có con, tò vò cõng về nuôi, do đó, tục gọi "con nuôi" là: "minh linh". Việt nam cũng có câu: "Tò vò mà nuôi con nhện...". Nhưng người xưa đã không xét kỹ, tò vò bắt minh linh hay nhện đưa về, là để làm thức ăn nuôi con nó, chứ không phải để nuôi làm con.
    33Nghĩ lượng: nghĩ ngợi suy tính.
    34.Bảo dưỡng: giữ gìn và nuôi nấng. Nguyệt Nga sợ rằng: Bùi ông bảo dưỡng mình là có mưu toan gì chăng ?
    35.Phòng hoa: căn phòng trang trí đẹp đẽ, văn vẻ.
    36Tượng nhân: hình người vẽ
    37.Dần lân: lân la dần dần
    38.Chánh tiết: điều trinh tiết chủ yếu.
    39.Bán đắt: tiếng miền Nam là đắt hàng. nói: bán đắt hàng sao không bán ngay mà lại ngồi chợ trưa nghĩa là có nhan sắc như Nguyệt Nga, ai chả say mê, việc chi mà ngồi đợi .
    40.Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào: do câu thơ của Ðỗ Phủ đời Ðường. Nhân sinh thất thập cổ lai hy, nghĩa là đời người ta, xưa nay ít ai sống được bảy mươi tuổi.
    41.Mười hai bến nước: có lẽ là một thành ngữ chỉ con số cửa sông hoặc cửa biển của nước ta thời xưa. Bài thơ của Lê Quát đời Trần có câu: "Hải môn thập nhi ngã hoàn sơn", nghĩa là: một vùng mười hai cửa biển, ta về núi ẩn". Ðây nói số phận đàn bà lênh đênh, không biết rõ đâu là bờ bến.
    42.Bâu: cổ áo. Câu này là một câu ca dao có sẵn
    43.Thói nước Trịnh: nước Trịnh đời Xuân thu, có tiếng là một nước nhiều thói phóng đãng, trai gái thường tụ trên sông Trăn sông Vị, cùng nhau tặng hoa thược dược mà đùa bỡn, còn những chuyện trèo tường, đón ngõ, hẹn nhau ngoài nội cỏ, thì rất phổ biến ở trong nước.
    44.Vườn dâu: đời Xuân Thu còn có nước Vệ cũng dâm tục như nước Trịnh, trai gái thường hẹn hò nhau ở trên sông Bộc hoặc trong vườn dâu.
    45.Hồ Dương: theo Hậu Hán thư: Hồ Dương công chúa, chị gái vua Hán Quang Vũ, góa chồng được ít lâu muốn lấy Tống Hoằng (Tống công) một đại thần của Quang Vũ. Hoằng không chịu lấy, quyết giữ trọn tình nghĩa với người vợ "tào khang" của mình (Xem chú thích ở câu 410).
    46.Hạ Cơ: một người đàn bà đẹp nhưng đa dâm, là con gái Trịnh Mục Công (đời Xuân thu), lấy Ngự Thúc, quan nước Trần, Ngự Thúc chết, thông tình với Trần Linh Công và các quan triều là Khổng Ninh, Nghi Hành Phủ. Sau Sở diệt Trần, lại lấy Liên Doãn Tương Lão (Liên Doãn là họ). Tương Lão chết, lại lấy Thân Công Vu Thần nước Sở
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Xuân Diện @ 16:00 24/01/2011
    Số lượt xem: 1018
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến