Welcome to BLOG

Phần mềm bản quyền miễn phí hàng ngày

Giveaway of the Day

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    LIÊN KẾT BÁO

    LIÊN KẾT THÀNH VIÊN ViOLET

    Chức năng chính 1

    Chào mừng đến với BLOG TRUYỆN

    Blog Truyện là website chia sẻ tài liệu nên xin được bỏ qua vấn đề về bản quyền tác giả. Nếu có yêu cầu gì xin được liên hệ qua dienbd79@gmail.com
    Gốc > THƠ QUA CÁC GIAI ĐOẠN > Thơ nước ngoài >

    Ivan Bunin (1870-1953)



    Ivan Bunin (1870-1953) - nhà văn, nhà thơ Nga, giải Nobel Văn học 1953.

    Tiểu sử:
    Sinh ngày 22-10-1870 ở vùng trung Nga, tuổi thơ sống ở miền quê tĩnh lặng của tỉnh Orlov. Thời trẻ làm thợ sửa bản in, viết báo. Năm 1891 in tập thơ đầu tay Dưới bầu trời rộng mở, năm 1897 xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác, được giới phê bình đánh giá cao. Năm 1889 I. Bunin rời quê, làm nhiều nghề kiếm sống như thợ sửa bản in thử, thủ thư, làm báo... Niềm đam mê hội họa và âm nhạc đã ảnh hưởng tới sáng tác văn học sau này của ông. I. Bunin làm thơ, viết văn khá sớm, sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu nổi tiếng về văn xuôi với các truyện ngắn và truyện vừa.
    Tác phẩm đầu tiên của ông là bài thơ Bên mộ Nadson - tên một nhà thơ Nga - (1863-1887). Năm 1891 ông xuất bản tập thơ trữ tình đầu tiên Những bài thơ (1891) ở Orlov. Thơ đã mở đầu văn nghiệp và còn đeo đẳng mãi ngòi bút của ông đến tận cuối đời. Năm 1894 ông in truyện ngắn đầu tay Tanka. Năm 1897, xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác, viết về sự suy tàn của tầng lớp quý tộc và cảnh sống cơ cực của người nông dân Nga, được giới phê bình khen ngợi.
    Tác phẩm của ông không đề cập đến các vấn đề chính trị. Ông không theo một trường phái nào như Suy đồi, Tượng trưng, Lãng mạn hay Tự nhiên chủ nghĩa. Ông sống chủ yếu ở nông thôn, đi du lịch nhiều nơi ở Nga và các nước trên thế giới như Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Hi Lạp, Palestin, Tunisia, Ai Cập và các vùng nhiệt đới... Ông quan tâm nhiều đến các vấn đề về tâm lý, tôn giáo, đạo đức và lịch sử.
    Năm 1909 I. Bunin được bầu làm Viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Năm 1910 ông xuất bản thiên truyện Làng, một bức tranh chân thực về cuộc sống nông thôn nước Nga; tác phẩm trở thành chủ đề bàn luận sôi nổi của giới trí thức Nga về thực chất xã hội Nga và chỉ trong một thời gian rất ngắn đã khiến I. Bunin nổi tiếng; thành công này được tiếp tục phát huy ở các tác phẩm tiếp theo.
    Bunin đi du lịch nhiều nơi, làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Năm 1909 được bầu làm Viện sĩ danh dự của Viện hàn lâm Khoa học Nga. Sau cách mạng tháng Mười ông di cư sang Pháp và tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị. Tập truyện Những con đường rợp bóng được tặng giải Nobel được viết trong thời kỳ này. Ngoài văn, thơ Bunin còn nổi tiếng là một dịch giả thơ bậc thầy. Bản dịch Bài ca về Hiawatha (The Song of Hiawatha) của Henry Wadsworth Longfellow được tặng Giải thưởng Puskin. Những năm cuối đời, I. Bunin viết một số truyện ký độc đáo và sâu sắc về các danh nhân Nga như L. Tolstoi, A. Sekhov... Năm 1951 ông được bầu là Hội viên danh dự số một của Hội Văn bút quốc tế.
    Ivan Bunin là nhà văn Nga đầu tiên được nhận giải Nobel Văn học. Ông mất ngày 8-11-1953 ở Pháp.

    Tác phẩm:
    - Dưới bầu trời rộng mở (Под открытым небом, 1891), tập thơ.
    - Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác (На край света и другие рассказы, 1897), tập truyện.
    - Những quả táo Antonov (Антоновские яблоки, 1900), truyện ngắn.
    - Lá rụng (Листопад, 1901), tập thơ.
    - Làng (Деревня, 1910), truyện vừa.
    - Sukhodol (Суходол, 1911), truyện vừa.
    - Quý ông từ San Francisco (Господин из Сан-Франциско, 1915), truyện vừa.
    - Hơi thở nhẹ (Легкое дыхание, 1916), truyện ngắn.
    - Hoa hồng Jericho (Роза Иерихона, 1924), tập truyện.
    - Tình yêu của Mitia (Митина любовь, 1926), truyện vừa.
    - Những ngày đáng nguyền rủa (Окаянные дни, 1926), nhật kí.
    - Cuộc đời Arseniev (Жизнь Арсеньева, 1930), tiểu thuyết.
    - Giải phóng Tolstoi (Освобождение Толстого, 1937), tiểu luận.
    - Những con đường rợp bóng (Темные аллеи, 1943), tập truyện.
    - Hồi tưởng (Воспоминания, 1950), tập kí.



    KHI ĐÔI MẮT MÀU XANH

    Anh hạnh phúc khi đôi mắt màu xanh
    Mắt màu xanh em ngước nhìn anh đó
    Niềm hy vọng trong mắt em rạng rỡ
    Bầu trời trong veo của một ngày xanh.

    Và đắng cay khi đôi mắt màu xanh
    Rủ hàng mi đen và em im bặt
    Yêu anh không, tự mình, em chẳng biết
    Còn tình yêu e ấp, cố giấu mình.

    Nhưng ở khắp nơi và chung thuỷ, thường xuyên
    Khi gần em tâm hồn anh toả sáng…
    Người yêu ơi hãy mãi là cao thượng
    Sắc đẹp tuyệt vời và tuổi trẻ của em!
    1896.



    HOA HỒNG JERICHO

    Để thể hiện lòng tin vào cuộc sống bất tử, sự hồi sinh từ cõi chết, ở phương Đông từ xa xưa người ta đặt hoa hồng Jericho vào quan tài, vào mộ.
    Thật lạ lùng rằng người ta gọi là hoa hồng, lại còn hoa hồng Jericho – một bó cọng gai giống như cỏ lông chông ở ta đây. Loài cây sa mạc này chỉ mọc trên cát sỏi ở vùng biển Chết, ở miền đồi núi Sinai không có người ở. Nhưng có huyền thoại rằng chính Ngài Savva khả kính đã chọn cho dân mình thung lũng Lửa, một thung lũng chết trơ trụi trong sa mạc Do Thái. Biểu tượng của sự hồi sinh đối với Ngài là hình một chó sói dữ, nó tô điểm cho Ngài hơn tất cả mọi thứ trên đời này.
    Bởi vì con chó sói này quả là kì diệu. Bỏ xứ sở của mình chạy đi xa hàng nghìn dặm, rồi trong nhiều năm nó có thể nằm chết, có màu xám và khô. Nhưng khi đặt nó vào nước thì ngay lập tức nở ra, có nhiều lá nhỏ, có màu hồng. Và con tim người trần tội nghiệp sẽ hân hoan và được an ủi: trên đời này không có cái chết, không chết những gì một thời đã có! Không có sự chia lìa và mất mát cho đến một khi hãy còn sống tâm hồn ta, Tình yêu và Ký ức của ta!
    Ta tự an ủi mình như vậy, sống lại trong ta những miền đất cổ xưa, nơi một thuở đã từng in dấu chân ta, ta sống lại những ngày hạnh phúc, nơi buổi trưa có mặt trời của cuộc đời ta đứng bóng. Khi hãy còn tràn đầy hy vọng và sức lực tràn đầy, khi tay trong tay với người con gái mà Chúa Trời sai làm người bạn đời của ta cho đến ngày xuống mộ. Lần đầu tiên ta đi về nơi xa lạ, cuộc du lãm của hôn nhân và chuyến hành hương về miền đất Thánh của Chúa Giê-su. Trong vẻ im lặng vô bờ của sự lãng quên và lặng yên muôn thuở, trước mặt ta là xứ sở Palestin – thung lũng Galilaia, những ngọn đồi Do Thái, là muối và vạc dầu của Pentapolis*. Nhưng khi đó mùa xuân, và trên tất cả mọi con đường của ta âm thầm nở hoa những bụi cây anh túc, những bông hoa đã từng nở thuở Rachel**, từng khoe vẻ đẹp những cánh đồng và những con chim nơi thiên đàng từng hót, một niềm vô tư khoái lạc qua câu ngụ ngôn trong Kinh Thánh đã dạy ta…
    Hoa hồng Jericho. Vào trong nước sống của con tim, vào trong hơi mát thanh sạch của tình, ta đắm chìm trong ngọn nguồn của sự dịu dàng và buồn đau xưa cũ – và lại một lần nữa, lại một lần nữa ngọn lúa của ta kỳ lạ sống vất vưởng qua ngày. Hãy đi khỏi nơi đây, cái giờ khắc sẽ đến, khi nước sẽ khô khan, con tim sẽ héo hon – thì tro tàn của sự lãng quên sẽ bao trùm lêm hoa hồng Jericho của ta muôn thuở.
    ________________
    Jericho – thành phố ở thung lũng Gioóc-đa-ni, phía bắc biển Chết.
    *Pentapolis – vùng đất của năm thành phố: Sodom, Gomorrah, Admah, Zeboiim, Zoar.
    **Rachel: vợ của Jacob.

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Xuân Diện @ 00:06 24/01/2011
    Số lượt xem: 763
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến